Công ty mẹ quyết định ở công ty con thông qua tư cách pháp lý của mình tại đó: là chủ sở hữu thì ra quyết định của chủ sở hữu, là thành viên hay cổ đông thì biểu quyết qua người đại diện phần vốn tại hội đồng thành viên hoặc đại hội đồng cổ đông, và gián tiếp qua những người mình đề cử vào bộ máy quản lý. Giám đốc công ty mẹ không có quyền ra lệnh thẳng cho nhân viên công ty con, và công ty mẹ phải chịu trách nhiệm nếu can thiệp ngoài thẩm quyền gây thiệt hại.
Khi doanh nghiệp lớn lên, nhiều chủ doanh nghiệp tách hoạt động thành vài công ty: một công ty sản xuất, một công ty thương mại, một công ty giữ bất động sản. Họ vẫn quen điều hành cả nhóm như một công ty, nhưng về pháp lý mỗi công ty con là một pháp nhân riêng, có bộ máy riêng và có thể có cổ đông khác. Bài này chỉ cách công ty mẹ quyết đúng kênh để giữ được quyền kiểm soát mà không tạo rủi ro cho cả nhóm.
Thế nào là công ty mẹ theo luật
Luật Doanh nghiệp 2020 coi một công ty là công ty mẹ của công ty khác khi thuộc một trong ba trường hợp: sở hữu trên một nửa vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty đó; hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó.
Ba tiêu chí cho thấy luật nhìn vào quyền kiểm soát chứ không chỉ vào tỷ lệ vốn. Một công ty nắm bốn mươi phần trăm vốn nhưng nhờ thoả thuận mà được bổ nhiệm đa số hội đồng quản trị vẫn có thể là công ty mẹ. Ngược lại, chuyện ai là "chủ thật" về mặt gia đình không làm thay đổi cấu trúc pháp lý: nếu ông A sở hữu cả hai công ty với tư cách cá nhân, hai công ty đó là công ty chị em chứ không phải mẹ con.
Phân biệt này quan trọng vì quyền của công ty mẹ đi theo đúng tư cách pháp lý. Muốn quyết ở công ty con, trước hết phải xác định công ty mẹ đang đứng ở vị trí nào: chủ sở hữu duy nhất, thành viên trong công ty TNHH nhiều thành viên, hay cổ đông trong công ty cổ phần.
Công ty mẹ quyết qua những kênh nào
Nếu công ty con là công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ, công ty mẹ thực hiện quyền chủ sở hữu: quyết định điều lệ, vốn, kế hoạch lớn, bổ nhiệm chủ tịch công ty hoặc hội đồng thành viên, phê duyệt báo cáo tài chính, phân chia lợi nhuận. Quyết định được ra bằng văn bản của công ty mẹ, ký bởi người có thẩm quyền trong công ty mẹ.
Nếu công ty con là công ty TNHH nhiều thành viên hoặc công ty cổ phần có cổ đông khác, công ty mẹ chỉ là một thành viên hay một cổ đông. Quyền của nó được thực hiện qua người đại diện phần vốn, người này dự họp hội đồng thành viên hoặc đại hội đồng cổ đông và biểu quyết theo tỷ lệ vốn của công ty mẹ. Công ty mẹ có đa số phiếu thì thường thông qua được phần lớn nghị quyết, nhưng vẫn phải đi qua cuộc họp, theo đúng thủ tục, với sự có mặt hoặc được mời của các cổ đông khác.
Kênh thứ ba là gián tiếp: những người công ty mẹ đề cử và được bầu vào hội đồng quản trị hay được bổ nhiệm làm giám đốc của công ty con. Khi ngồi vào ghế đó, họ có nghĩa vụ với công ty con, không chỉ với công ty mẹ. Đây là chỗ hay sinh xung đột lợi ích, nhất là khi lợi ích hai công ty lệch nhau.
Việc ở công ty con và đường đi của quyết định
Bảng dưới minh hoạ cho trường hợp công ty con là công ty cổ phần mà công ty mẹ nắm đa số cổ phần, còn lại thuộc vài cổ đông khác.
| Việc ở công ty con | Cơ quan quyết trong công ty con | Công ty mẹ tác động qua đâu |
|---|---|---|
| Sửa điều lệ, tăng vốn, chia cổ tức | Đại hội đồng cổ đông | Người đại diện phần vốn biểu quyết theo chỉ đạo của công ty mẹ |
| Bầu thành viên hội đồng quản trị | Đại hội đồng cổ đông | Đề cử ứng viên và biểu quyết |
| Bổ nhiệm tổng giám đốc | Hội đồng quản trị | Qua các thành viên hội đồng quản trị do mình đề cử |
| Hợp đồng giá trị lớn | Hội đồng quản trị hoặc đại hội tuỳ ngưỡng | Biểu quyết tại cơ quan tương ứng |
| Hợp đồng mua bán với chính công ty mẹ | Cơ quan phê chuẩn giao dịch với người có liên quan | Công ty mẹ là bên có lợi ích, thường không được biểu quyết |
| Tuyển nhân viên, mua hàng thường ngày | Tổng giám đốc công ty con | Không trực tiếp; chỉ qua chính sách chung đã được công ty con thông qua |
Dòng giao dịch với chính công ty mẹ là dòng hay bị bỏ sót nhất. Ở đó, cổ đông đa số lại phải đứng ngoài cuộc biểu quyết, và quyết định nằm trong tay các cổ đông còn lại hoặc các thành viên hội đồng quản trị không liên quan.
Bên trong công ty mẹ, ai quyết thay mặt công ty mẹ
Quyết định lập công ty con và góp vốn. Ở công ty mẹ là công ty cổ phần, việc thành lập công ty con, góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp khác thường thuộc hội đồng quản trị, trừ khi giá trị đủ lớn để phải qua đại hội đồng cổ đông theo điều lệ. Ở công ty mẹ là công ty TNHH, việc này thường thuộc hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu.
Cử và thay người đại diện phần vốn. Cơ quan có thẩm quyền trong công ty mẹ cử người đại diện bằng văn bản, ghi số vốn được đại diện và phạm vi. Văn bản cử người đại diện thường phải được thông báo cho công ty con.
Chỉ đạo biểu quyết. Công ty mẹ nên có quy chế ghi rõ những việc người đại diện phải xin ý kiến trước khi biểu quyết, những việc được tự quyết. Không có quy chế, người đại diện rơi vào thế khó: biểu quyết theo ý mình thì sợ trái ý công ty mẹ, xin ý kiến mọi việc thì chậm.
Nhận báo cáo. Người đại diện báo cáo định kỳ cho công ty mẹ về tình hình công ty con, trong giới hạn bảo mật mà công ty con đặt ra với các cổ đông khác.
Những giới hạn luật đặt cho quan hệ mẹ con
Luật Doanh nghiệp đặt một số ranh giới để bảo vệ công ty con, chủ nợ và cổ đông thiểu số của nó.
- Công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông, buộc công ty con làm hoạt động trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc không sinh lợi mà không đền bù hợp lý, gây thiệt hại cho công ty con, thì phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó.
- Người quản lý công ty mẹ chịu trách nhiệm về sự can thiệp đó có thể phải liên đới cùng công ty mẹ.
- Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của chính công ty mẹ.
- Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.
- Giao dịch giữa công ty mẹ và công ty con thường thuộc diện giao dịch với người có liên quan, phải qua quy trình phê chuẩn riêng ở công ty con.
- Công ty mẹ phải lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định kế toán, bên cạnh báo cáo riêng.
Danh sách trên nhắc theo Luật Doanh nghiệp 2020; khi áp dụng cho một trường hợp cụ thể, đặc biệt với công ty có vốn nhà nước, tổ chức tín dụng hay công ty đại chúng, cần đối chiếu thêm luật chuyên ngành.
Góc nhìn của cổ đông thiểu số ở công ty con
Với cổ đông thiểu số của công ty con, công ty mẹ là cổ đông lớn có thể quyết hầu hết mọi việc qua biểu quyết. Điều đó hợp pháp, nhưng không xoá quyền của thiểu số. Họ vẫn có quyền dự họp, được thông tin, yêu cầu huỷ nghị quyết nếu thủ tục sai, và được biểu quyết thay công ty mẹ ở các giao dịch mà công ty mẹ có lợi ích.
Ví dụ giả định, công ty mẹ muốn công ty con bán toàn bộ sản phẩm cho mình với giá thấp hơn thị trường, rồi công ty mẹ bán lại kiếm lời. Hợp đồng đó là giao dịch với người có liên quan; công ty mẹ không được biểu quyết, và nếu bị ép thông qua sai quy trình thì cổ đông thiểu số có cơ sở phản đối. Phía công ty mẹ cũng nên thấy rằng giá chuyển giao hợp lý và minh bạch giúp họ tránh tranh chấp, cũng như tránh câu hỏi từ cơ quan thuế.
Khi bất đồng giữa công ty mẹ và cổ đông thiểu số đã thành tranh chấp, hai bên nên tìm đến luật sư doanh nghiệp. Bạn có thể bắt đầu bằng việc hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để xác định vấn đề nằm ở thủ tục hay ở nội dung giao dịch.
Dựng quy chế quản lý người đại diện phần vốn
Nhóm công ty có từ hai công ty con trở lên nên có quy chế này. Các bước chính:
- Liệt kê các công ty con, tỷ lệ sở hữu, người đại diện phần vốn và người đã được đề cử vào bộ máy quản lý.
- Chia các vấn đề ở công ty con thành hai nhóm: phải xin ý kiến công ty mẹ trước khi biểu quyết, và được người đại diện tự quyết.
- Quy định hình thức xin ý kiến, thời hạn trả lời, và ai trong công ty mẹ được trả lời.
- Ghi nghĩa vụ báo cáo và nghĩa vụ bảo mật của người đại diện.
- Ghi rõ nguyên tắc ứng xử khi lợi ích công ty mẹ và công ty con xung đột.
- Cho cơ quan có thẩm quyền của công ty mẹ thông qua và phổ biến cho người đại diện.
Quy chế là văn bản của công ty mẹ, không ràng buộc công ty con hay cổ đông khác. Nó điều chỉnh quan hệ giữa công ty mẹ và người mình cử đi, và đó chính là chỗ cần rõ ràng nhất.
Câu hỏi thường gặp
Tổng giám đốc công ty mẹ có được ra lệnh cho giám đốc công ty con không?
Không trực tiếp. Giám đốc công ty con chịu sự quản lý của hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên của chính công ty con. Công ty mẹ tác động qua người đại diện phần vốn và những người mình đề cử vào bộ máy đó.
Công ty con có được cho công ty mẹ vay tiền không?
Có thể, nhưng đây là giao dịch với người có liên quan, phải qua cơ quan phê chuẩn có thẩm quyền ở công ty con, và công ty mẹ là bên có lợi ích thường không được biểu quyết. Cần đối chiếu thêm quy định về cho vay giữa doanh nghiệp.
Công ty con có được mua cổ phần của công ty mẹ không?
Không. Luật Doanh nghiệp cấm công ty con đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ, để tránh tình trạng vốn quay vòng làm sai lệch quy mô thật của nhóm.
Người đại diện phần vốn biểu quyết trái chỉ đạo của công ty mẹ thì sao?
Về phía công ty con, phiếu biểu quyết thường vẫn có giá trị vì người đại diện được ghi nhận hợp lệ. Về phía công ty mẹ, người đại diện có thể phải chịu trách nhiệm theo quy chế nội bộ và hợp đồng với công ty mẹ.
Hai công ty do cùng một người làm chủ có phải công ty mẹ con không?
Không nhất thiết. Nếu một cá nhân sở hữu cả hai, đó là hai công ty cùng chủ, không phải mẹ con. Tuy vậy, giao dịch giữa hai công ty vẫn có thể thuộc diện người có liên quan vì cùng chịu sự kiểm soát của một người.